These are all contents from amtech.vn - Giải đáp thắc mắc về công nghệ tagged nikon.
Đại diện cao cấp của Nikon cho hay họ sẽ tập trung hơn vào những sản phẩm tiêu dùng khác bên cạnh sản xuất máy ảnh. Trong cuộc phỏng vấn với Bloomberg, đại diện cấp cao Makoto Kimura cho hay, thị phần máy ảnh ngắm chụp (point-and-shoot) của hãng đã sụt giảm khoảng một phần tư trong tháng 4 và 5 so với một năm trước đó. Trong khi đó, dựa trên số liệu phân tích của IDC Corp, sản lượng điện thoại thông minh đã tăng thêm 46% và đạt đến con số 722 triệu sản phẩm. "Chúng tôi muốn tạo ra một sản phẩm thay đổi quan niệm về máy ảnh. Đó sẽ là một sản phẩm không thuộc mảng camera", ông Kimura chia sẻ, nhưng từ chối trả lời câu hỏi liệu đó có phải một chiếc điện thoại di động. [IMG] Nikon sẽ sớm chuyển hướng kinh doanh các sản phẩm ngoài máy ảnh nhằm chống lại sức bùng nổ của các thiết bị di động thông minh. Ảnh: TheVerge. Trước sự phát triển mạnh mẽ của thị trường điện thoại di động thông minh, cộng thêm sự bùng nổ số lượng người dùng chụp ảnh bằng điện thoại, Nikon quyết định sẽ vẫn tập trung vào việc sản xuất máy ảnh nhưng “thay đổi cách tiếp cận để cung cấp sản phẩm cho thị trường lớn hơn”. Dù chưa có thêm bất kỳ chi tiết nào về kế hoạch sản xuất cũng như các sản phẩm cụ thể mà Nikon sẽ theo đuổi trong tương lai, nhưng nhiều khả năng Nikon sẽ tập trung vào sản xuất những thiết bị tiêu dùng không phải là máy ảnh. Trong một số lĩnh vực, Nikon được xem là khá chậm trong việc đổi mới. Song, nếu chỉ xét riêng về mảng máy ảnh thì đây là hãng đầu tiên chế tạo thành công mẫu máy chạy hệ điều hành Android Coolpix S800c dù sản phẩm chưa gây nhiều ấn tượng về hiệu năng và chất lượng ảnh chụp. Có thể trong tương lai, Nikon sẽ cân nhắc mở rộng sản xuất các thiết bị phục vụ y tế và đây là mục tiêu hàng đầu để tạo ra doanh thu trong vòng 3 năm tới cho hãng. From VNExpress
Model đầu tiên sử dụng cảm biến CMOS full-frame của Leica là M Type 240 bị dòng DSLR bỏ xa và thậm chí kém một số model Micro Four Thirds. [IMG] Leica M là chiếc máy ảnh M Series đầu tiên của Leica chuyển sang dùng cảm biến CMOS. Nếu đang hâm mộ dòng máy rangefinders kỹ thuật số và hoài nghi về khả năng thẩm định cảm biến của DxOMark thì người dùng có thể muốn bỏ qua bài kiểm tra chiếc Leica M số hiệu 240 mới được công bố hôm qua. Sản phẩm này được thử nghiệm và so sánh với hai model khác của dòng M bao gồm M9, M9-P và đều cho kết quả khá thấp là 69, 68 và 69 tương ứng. Leica M chuẩn bị được bán ra thị trường và đây được coi là sản phẩm đáng chú ý nhất của hãng trong thời gian qua với cảm biến CMOS kích thước full-frame. Trước đó, hãng máy ảnh Đức chỉ sử dụng cảm biến CCD và "mắc kẹt" trong các dòng M của mình suốt từ năm 2006 kể từ khi công bố chiếc M8. Việc chuyển sang sử dụng dòng CMOS khiến nhiều người hâm mộ thương hiệu này hy vọng vào một chất lượng cảm biến tốt hơn nhưng thực tế, ít nhất là qua các bài kiểm tra của DxOMark lại không phải như vậy. Với điểm số tổng là 69, máy có các điểm thành phần là 22,7 bits với độ sâu màu, 11,7 Evs với dải tương phản và 787 với ISO trong điều kiện ánh sáng yếu. Các con số này không hơn so với M9 và M9-P thậm chí kém hơn một chút ở khả năng chụp ở điều kiện ánh sáng yếu. Những kết quả này khiến Leica M bị bỏ xa so với nhiều model DSLR hiện tại như Nikon D4 là 89, Canon 1D X là 82, Canon 5D Mark III là 81 và Nikon D800 là 95. Hơn nữa, nếu so sánh với hai chiếc máy mirrorless khác là Panasonic GH3 và Olympus OM-D EM-5, sản phẩm của Leica cũng thua kém dù không nhiều. Tuy nhiên, DxOMark cũng chú thích thêm rằng, các thử nghiệm của họ không đánh giá đến chất lượng quang học, điểm mạnh nhất của Leica. Hơn nữa, sự hơn thua về cảm biến chưa thể đánh giá được tổng thể một sản phẩm có thực sự tốt hơn hay không. Điều này cũng khá giống việc gần đây các sản phảm của Canon đều có điểm cảm biến thua kém Nikon, thậm chí là khá xa. So sánh điểm số Leica M với một số model khác. [IMG] Bộ ba dòng M của Leica dù thay đổi loại từ CCD sang CMOS nhưng điểm số vẫn không khá hơn. [IMG] Leica M có điểm cảm biến kém xa D4 và 1D X. [IMG] Cũng như 5D Mark III và D800. [IMG] ... và thậm chí là cả hai model máy Micro Four Thirds. From VNExpress
Samyang hôm nay công bố giá bán chính thức của mẫu ống kính tilt-shift được hãng ra mắt tại triển lãm Photokina năm ngoái. Sản phẩm này có giá 999 USD và có ba loại ngàm dành cho máy Canon, Nikon và Sony. Riêng phiên bản dành cho máy Pentax hiện chưa có thông tin. [IMG] Samyang T-S 24mm 1:3.5 ED AS UMC dành cho các máy full-frame. Ống kính này có khả năng trượt một khoảng cách 12 mm và xoay góc 8,5 độ giúp người dùng kiểm soát được các đối tượng hình học cũng như độ sâu trường ảnh. [IMG] Ngoài ra, mặt phẳng dịch chuyển cũng có thể xoay góc +/- góc 90 độ so với ngàm chuyển và xoay chuyển góc 90 độ so với trục thay đổi cho phép chủ sở hữu linh hoạt hơn trong nhiều tình huống chụp. Thông tin kỹ thuật của ống kính Samyang T-S 24mm 1:3.5 ED AS UMC. Độ mở ống kính: f/3.5-22 Cấu trúc thấu kình: 16 thấu kính chia làm 11 nhóm trong đó có 2 thấu kính phi cầu. Khoảng lấy nét tối thiểu: 0,2 mét Kích thước filter: 82 mm Đường kính tối đa: 86 mm Góc nhìn: 83,5° (35 mm full frame) Chiều dài: 110,5 mm (Nikon F mount) Khả năng xoay: +/-8°; xoay 90° so với mặt phẳng dịch chuyển Khả năng dịch chuyển: +/-12 mm; xoay +/- 90° so với ngàm chuyển
Nikon hôm nay giới thiệu hai mẫu ống kính cao cấp mới trước thềm triển lãm CP+ diễn ra tại Nhật Bản. [IMG] AF-S Nikkor 18-35mm F3.5-4.5G. Bộ đôi này bao gồm ống kính AF-S Nikkor 18-35mm F3.5-4.5G góc rộng dành cho các máy full-frame và ống kính siêu tele AF-S Nikkor 800mm F5.6E FL ED VR. Giá bán của hai ống kính này được thông báo là 750 USD và 18.000 USD tương ứng. [IMG] AF-S Nikkor 800mm F5.6E FL ED VR Mẫu thứ hai là AF-S Nikkor 800 mm f/5.6E FL ED VR cho tiêu cự lên tới 1.000 mm và khẩu độ nâng lên f/7.1 nếu sử dụng bộ chuyển teleconverter tích hợp sẵn cho hệ số nhân 1,25x. Sản phẩm sử dụng 20 thấu kính chia làm 13 nhóm trong đó có 2 thấu kính flourite, 2 thấu kính ED và một thấu kính bảo vệ. Nikon cũng sử dụng 9 lá khẩu cho ống kính này. Khoảng lấy nét gần nhất là 5,9 mét và cân nặng lên tới 4,59 kg. Nguồn sohoa
Dòng DSLR entry-level năm qua gặp nhiều khó khăn do sự canh tranh từ máy ảnh mirrorless và compact cao cấp. Tuy nhiên, các hãng vẫn phát triển phân khúc này do đây là hệ máy được yêu thích bởi những người mới đổi qua chơi máy ảnh chuyên nghiệp. Sau đây là tổng hợp các máy ảnh ống kính rời dành cho người mới chơi hấp dẫn trong năm 2012 của Số Hoá: Canon 650D [IMG] Canon 650D là máy ảnh entry-level duy nhất của Canon trong năm 2012. Sản phẩm được trang bị cảm biến CMOS APS-C độ phân giải 18 megapixel, chip xử lý hình ảnh Digic 5, ISO hỗ trợ từ 100 đến 25.600, khả năng chụp liên tiếp 5 khung hình mỗi giây. Máy cũng có thể quay video chuẩn Full HD. EOS 650D có hệ thống lấy nét 9 điểm cross-type tương tự EOS 60D, ngoài ra hệ thống lấy nét mới của hãng kết hợp cả việc phát hiện tương phản và lấy nét theo pha khi sử dụng với các ống kính STM mới. Máy được trang bị màn hình cảm ứng điện dung Clear View II TFT kích thước 3 inch độ phân giải 1.040.000 pixel có thể lật xoay linh hoạt. Hàng chính hãng được bán với giá 19,5 triệu đồng cho thân máy và ống kit 18-55 mm. Sony A57 [IMG] Alpha A57 trang bị bộ cảm biến APS-C CMOS độ phân giải 16 megapixel, bộ xử lý hình ảnh BIONZ, độ nhạy sáng ISO từ 100 cho đến 1.600. Máy có thể quay video chuẩn Full HD 60i với tốc độ 24 và 25 khung hình mỗi giây. A57 sử dụng kiểu chống rung trong thân máy. Màn hình phía sau kích thước 3 inch độ phân giải 921.600 pixel có thể lật linh hoạt cùng kính ngắm điện tử EVF độ phân giải 1,4 triệu điểm ảnh. Hệ thống lấy nét của máy có 15 điểm lấy nét trong đó có 3 điểm crosstype. Hàng chính hãng giá 15,6 triệu đồng cho thân máy. Sony SLT A37 [IMG] Sony SLT A37 là phiên bản thay thế cho A35 trước đó. Máy được trang bị cảm biến CMOS APS-C độ phân giải 16 megapixel, ISO hỗ trợ từ 100 đến 25.600, chống rung hình ảnh được tích hợp trên cảm biến. Máy có hệ thống lấy nét 15 điểm tự động. Sony A37 còn có khả năng quay video độ phân giải Full HD. Model có kính ngắm điện tử độ phân giải cao và màn hình LCD 2,7 inch với độ phân giải 230.400 điểm ảnh có khả năng xoay lật linh hoạt. Hàng chính hãng giá 11 triệu đồng cho thân máy. Nikon D3200 [IMG] D3200 là model thuộc dòng entry-level của Nikon với khả năng kết nối di động Android, iOS qua phụ kiện Wi-Fi bán rời. Nikon D3200 trang bị cảm biến CMOS APS-C độ phân giải 24 megapixel và chip xử lý hình ảnh Expeed 3, so với chỉ 14 megapixel trên D3100. Máy cũng hỗ trợ độ nhạy sáng ISO 6.400 và mở rộng lên mức 12.800, 11 điểm lấy nét tự động, tốc độ chụp liên tiếp 4 khung hình mỗi giây. D3200 không hỗ trợ mô-tơ lấy nét trong giống các mẫu DSLR gần đây của Nikon do hãng đã chuyển dần sang các mẫu ống kính tích hợp linh kiện này. Màn hình kích thước 3 inch và được nâng cấp lên 921.000 điểm ảnh. Thân máy và ống kit 18-55 mm giá 13,8 triệu đồng (hàng chính hãng). Nikon D5200 [IMG] Nikon D5200 là phiên bản nâng cấp của D5100 với cảm biến CMOS mới độ phân giải 24 megapixel và chip xử lý hình ảnh Expeed 2. Máy cũng nổi bật với cảm biến lấy nét tự động Multi-Cam 4800DX cùng hệ thống lấy nét 39 điểm với 9 điểm cross-type ở chính giữa và hệ thống đo sáng 2.016 pixel RGB tương tự như mẫu D7000 trước đó. D5200 hỗ trợ ISO từ 100 đến 6.400, mở rộng lên mức 25.600. Máy có hả năng quay video chuẩn Full HD 1080p 60i hoặc 50i và chụp hình liên tục 5 khung hình mỗi giây. Chiếc DSLR mới của Nikon sử dụng kính ngắm với độ phủ 95%. Màn hình phía sau của D5200 có khớp lật xoay linh hoạt, kích thước 3 inch độ phân giải 921.000 pixel. D5200 còn có thêm phụ kiện kết nối Wi-Fi WU-1a cho phép máy điều khiển chụp ảnh cũng như chuyển hình ảnh không dây tới các thiết bị di động chạy Android hoặc iOS. Thân máy và ống kit 18-55 mm giá 18 triệu đồng (chính hãng). Pentax K30 [IMG] Pentax K-30 được trang bị bộ vỏ bảo vệ chống lại thời tiết như bụi, nước và nhiệt độ khắc nghiệt. Máy sở hữu cảm biến ảnh CMOS APS-C, độ phân giải 16 megapixel. Model này cũng có chip xử lý hình ảnh giống K-01 nên cung cấp chất lượng hình ảnh ấn tượng cũng như vay mượn nhiều tính năng từ K-5. Máy không tăng độ nhạy sáng với sản phẩm của ba năm trước với mức ISO hỗ trợ là từ 100 đến 25.600 nhưng có thể quay video độ phân giải Full HD tốc độ 30 khung hình mỗi giây. Ngoài ra, K-30 cũng có thể chụp liên tiếp tốc độ 6 hình mỗi giây. Máy có 11 điểm lấy nét tự động, kính ngắm quang học của máy cũng có độ phủ 100% khung hình và độ phóng đại 0,92x. Màn hình phía sau của K-30 có kích thước 3 inch độ phân giải 920.000 pixel. Sản phẩm hiện được bán với giá 15,9 triệu đồng cho thân máy (chính hãng). From VNExpress
Ngoài việc kiểm tra kỹ ngoại hình, bạn cũng cần chú ý đặc biệt đến những chi tiết quan trọng như số lần chụp, cảm biến, ống kính... trước khi quyết định tậu một chiếc DSLR cũ. Sau đây là những lưu ý của Cnet để bạn tham khảo: Kiểm tra số lần chụp Hầu hết mọi máy ảnh ống kính rời đều có giới hạn số lần chụp - còn được gọi là tuổi thọ của màn trập. Đây là yếu tố đầu tiên cần phải quan tâm một khi đã quyết định mua một chiếc máy ảnh "second-hand". Hiện tại, không có một con số cụ thể nào để nói về tuổi thọ chính xác của màn trập trên một chiếc máy ảnh DSLR. Tuy vậy, bạn vẫn có thể tìm kiếm trên Internet số lần đóng/mở màn trập của một model bất kỳ đã được kiểm tra ổn định trước (vì đa phần các máy này đều đã qua sử dụng). Với những mẫu DSLR phổ thông, tuổi thọ màn trập tối đa có thể vào khoảng 50.000 lần đóng/mở. Tuy nhiên, vẫn có một số model hoạt động ổn định ngay khi “tuổi thọ” đã tới hạn. Với những dòng máy DSLR từ trung cấp đến chuyên nghiệp, tuổi thọ màn trập nhỏ nhất vào khoảng 100.000 và cao nhất khoảng 300.000 lần. [IMG] Bộ màn trập của Nikon. Ảnh: Nikon USA. Để biết được số lần chụp hiện tại của máy, cách đơn giản nhất là hỏi ngay chính người bán. Ngoài ra, cũng có thể tự mình kiểm tra số lần đóng/mở màn trập của sản phẩm bạn định mua bằng cách đơn giản nhất là xem cách đánh số thứ tự tên của tập tin ảnh trên máy đó. Tuy nhiên, cách này có độ tin cậy thấp nhất, vì một số mẫu DSLR cho phép người dùng thiết lập lại (reset) số thứ tự này. Phương pháp kiểm tra thứ hai là dùng các phần mềm hỗ trợ của hãng thứ 3 như EOSInfo dành cho máy Canon (một số dòng máy Canon mới không có tác dụng với tiện ích này), hay một số phần mềm hỗ trợ xem thông số trong dữ liệu EXIF của ảnh như EXIFTool (tải về tại đây), Opanda IExif 2 (tải về tại đây). Ngoài ra, bạn cũng có thể chọn cách tải trực tiếp một ảnh chụp lên trang myshuttercount.com để xem nhanh số lần chụp ảnh hiện tại của máy cần mua. [IMG] Một khi đã biết được tuổi thọ hiện tại của sản phẩm bạn dự định mua, tiếp theo, hãy chụp thử một vài ảnh ở nhiều tốc độ (nhanh/chậm) khác nhau và lắng nghe âm thanh tạo ra do màn trập di chuyển. Bất kỳ tiếng động lạ nào trong quá trình chụp ảnh đều là dấu hiệu không tốt, bạn cần phải lưu ý. Kiểm tra bộ cảm biến Cách tốt nhất để kiểm tra bộ cảm biến của một chiếc DSLR là chụp một bức ảnh nền trắng hoàn toàn ở khẩu độ nhỏ nhất của ống kính (f/22 chẳng hạn) và độ sáng thích hợp. Sau khi chụp xong, hãy phóng lớn ảnh đến độ phân giải tối đa trên máy tính để kiểm tra xem có “vết tích” lạ trên nền trắng này hay không. Bất kỳ dấu hiệu lạ nào trên ảnh đều có nghĩa khả năng cảm biến máy bị bám bụi hoặc trầy xước, cần phải thay thế. [IMG] Bộ cảm biến hình ảnh trên một mẫu máy DSLR. Ảnh Cnet. Bên cạnh đó, cũng có sử dụng tính năng khóa ngược gương lật (mirror lock up) từ giao diện menu của máy để quan sát bề mặt sensor bằng mắt thường. Nếu bề mặt cảm biến bám dính bụi, phải sử dụng những dụng cụ chuyên biệt để vệ sinh hoặc nhờ chính người bán ở cửa hàng làm việc này. Tuy nhiên, tuyệt đối không chọn máy có dấu hiệu trầy xước trên bộ cảm biến. Kiểm tra ống kính Đa phần những chiếc DSLR second-hand đều không được bán kèm ống kính. Vì thế nếu dự định mua thêm ống kính rời, bạn cũng phải lưu ý những chi tiết sau. Trước hết, phải quan sát mặt kính phía sau và phía trước ống kính thật kỹ càng để đảm bảo không có bất kỳ vết xước nào. Với những ống kính có vòng chỉnh khẩu độ thủ công, hãy thử xoay nhiều lần để chắc chắn mọi thứ đều trơn tru khi thao tác và các lá khẩu phải khép thật đều. [IMG] Kiểm tra kỹ lưỡng ngoại hình ống kính là một yếu tố quan trọng khi mua ống kính cũ. Ảnh: Mir.com.my. Để kiểm tra xem ống kính có mốc bên trong hay không, bạn hãy quan sát từ phía sau ống kính dưới ánh đèn neon hoặc một nguồn sáng tự nhiên khác trong khi dùng ngón tay khác để che phía trước ống kính. Nếu phần viền ống kính trong suốt và bóng do ngón tay tạo ra sáng đều là được. Bạn cũng cần chú ý quan sát phần vỏ nhựa bên ngoài ống kính một cách cẩn thận để chắc chắn là ống kính này không bị rơi rớt, va đập hay đã tháo ra để vệ sinh bên trong. Cuối cùng, hãy gắn ống kính vào thân máy để tiếp tục thử khả năng lấy nét tự động của máy ở nhiều khoảng cách khác nhau. Màn hình LCD Với máy ảnh số, màn hình LCD phía sau cũng là một thiết bị có tầm quan trọng không kém, giúp bạn xem lại kết quả sáng tác của mình. Để kiểm tra, trước hết cần xem lớp nhựa bảo vệ bên ngoài có dấu hiệu trầy xước hay nứt nẻ không. Tiếp đến, xem điểm chết trên màn hình bằng cách để LCD hiển thị duy nhất một màu như đen hoặc trắng. [IMG] Nếu màn hình có thể lật xoay đa hướng, bạn cũng phải kiểm tra kỹ từng vị trí của khớp xoay để bảo đảm hình ảnh vẫn hiển thị tốt. Ảnh: Photographyreview.com. Người mua cũng cần quan sát độ đồng nhất cũng như khả năng hiển thị chính xác màu sắc trên LCD. Với những máy ảnh có màn hình LCD đơn sắc ở phía trên, hãy kiểm tra xem có dấu vết nào lạ trên màn hình khi tắt máy hay không và nhớ kiểm tra xem đèn LED của LCD có hoạt động hay không. Kiểm tra phụ kiện đi kèm máy Một điểm cần lưu ý khác khi mua máy ảnh cũ là bạn phải hỏi người bán các phụ kiện đi kèm hay không. Với ống kính, phải kiểm tra đầy đủ nắp che trước sau, filter (kính lọc) bán kèm. [IMG] Riêng với thân máy, cần xem kỹ những phụ kiện như nắp che, pin, bộ sạc, cáp kết nối với máy tính và dây đeo. Một số cửa hàng bán máy cũ có uy tín còn lưu giữ khá đầy đủ tài liệu hướng dẫn cũng như CD phần mềm đi kèm máy. Ngoài ra, cũng nên quan tâm đến chế độ bảo hành của những model đã qua sử dụng này. Một số máy đã qua sử dụng nhưng có thể vẫn còn thời hạn bảo hành chính hãng. Riêng với những model đời cũ, tùy nơi bán mà bạn sẽ nhận đuợc thời gian bảo hành khác nhau. From VNExpress
Trong bài viết Nhiếp ảnh cơ bản: Các bước chụp một tấm hình, chúng ta có đề cập đến 4 bước bao gồm: Bật máy, Chọn chế độ chụp phù hợp, Lấy nét và chụp, Xem lại và xóa. Tuy nhiên trên thực tế, nếu lựa chọn một trong số các chế độ chụp nâng cao (xem lại bài viết Các chế độ chụp thường gặp trên máy ảnh) chúng ta còn đồng thời phải thiết lập một số các thông số khác bởi khi đó máy ảnh sẽ dành cho chúng ta rất nhiều “đất” để sáng tạo và làm chủ chiếc máy. Việc thiết lập các thông số này có ý nghĩa như nhau trên cả máy ảnh ống kính rời lẫn máy ảnh du lịch. 1. Thiết lập giá trị phơi sáng (EV) Với 3 chế độ chụp P, A và S, người chụp cần xác lập giá trị EV mong muốn từ trước khi chụp (xem lại bài viết Các thông số cơ bản trong nhiếp ảnh: Sự phơi sáng để hiểu rõ hơn về ý nghĩa của giá trị EV này) để tạo ra tấm hình với độ phơi sáng như mong muốn. Mặc định EV=0 được coi là “đủ sáng” Các giá trị dương (+) sẽ điều chỉnh máy cho lượng sáng nhiều hơn với thực tế, giá trị âm (-) thì ngược lại. Tuy nhiên không phải lúc nào giá trị EV=0 mặc định cũng cho ánh sáng đúng với thực tế những gì mắt người nhìn thấy, nguyên nhân có thể do tính năng đo sáng làm việc sai, hoặc người dùng thiết lập cách thức đo sáng không chính xác (xem phần 2 trong bài viết này). Trong nhiều trường hợp, giá trị này sẽ cần phải giảm xuống (tương tự như mắt người khi nhìn giữa buổi trưa nắng gắt phải nheo lại và lấy bàn tay che phía trên lông mày) hoặc tăng lên (tương tự như khi nhìn ban đêm, ta thường phải cố mở mắt to ra để nhìn được rõ hơn). Lúc này máy ảnh sẽ tự tính toán các thông số còn lại (tốc độ chụp, độ mở ống kính, độ nhạy sáng ISO) để hình chụp ra đạt đúng giá trị EV đã thiết lập. Vì là một thông số vô cùng quan trọng, nên giá trị EV thường được ưu ái đặt trên một nút bấm riêng để người dùng có thể truy cập nhanh thay vì phải vào sâu trong Menu trên màn hình. Nút bấm này thường được ký hiệu như sau: [IMG] Nút EV (khoanh màu đỏ) trên máy ảnh ống kính rời. [IMG] Nút EV (khoanh màu đỏ) trên máy ảnh du lịch. 2. Thiết lập cách thức đo sáng (Metering) Mỗi vật thể riêng rẽ trong cùng một tấm hình đều mang các giá trị sáng khác nhau. Ví dụ giá trị sáng của một chiếc bóng đèn điện chắc chắn sẽ lớn hơn nhiều lần giá trị sáng của một con đom đóm. Thiết lập Metering là thiết lập cách thức mà máy ảnh sẽ ghi nhận từng giá trị sáng riêng rẽ này, rồi tổng hợp chúng lại thành một giá trị phơi sáng chung cho cả tấm hình sẽ chụp ra. Tùy theo thể loại ảnh mà chúng ta sẽ sử dụng các cách thức đo sáng khác nhau. + Matrix metering hay Evaluative/ Pattern metering: đo sáng kiểu ma trận. Máy ghi nhận giá trị sáng tại tất cả các vùng sáng tối trong khung hình, rồi sau đó tính toán để đưa ra một giá trị phơi sáng cân bằng nhất, đảm bảo mọi vật thể tại mọi vị trí trong khung hình đều ít nhiều nhận được một lượng ánh sáng chấp nhận được. Cách thức đo sáng này thường được sử dụng trong thể loại ảnh phong cảnh. +Spot metering: đo sáng điểm. Máy ghi nhận và tái hiện chính xác giá trị phơi sáng tại điểm được lấy nét (tạm gọi là giá trị sáng gốc). Giá trị sáng tại các vùng còn lại trên tấm hình được tái hiện dựa trên tỷ lệ tương quan với giá trị sáng gốc này. Đây là cách thức đo sáng “buộc phải sử dụng” khi chụp ảnh chân dung, đặc biệt là chân dung trong điều kiện ngược chiều ánh sáng. + Center-weight metering: đo sáng vùng bao quanh điểm lấy nét. Đảm bảo vùng trung tâm xung quanh điểm lấy nét của tấm hình (bao gồm vị trí đặt điểm lấy nét và các vùng liền kề xung quanh) chụp ra được “đủ sáng”, trong khi các vùng sáng tối ở xa hơn có thể có sự sai lệch trong giới hạn cho phép. Thực tế Center-weight metering là cách thức đo sáng chỉ xuất hiện từ khi máy ảnh số trở nên phổ biến. Còn trước đó, trong thời kỳ máy phim lẫn máy ảnh số sơ khai, cách thức đo sáng chỉ bao gồm Matrix và Spot, cũng là hai cách thức mà chúng ta thường sử dụng nhất. + Partial metering: cách thức đo sáng ít gặp, nằm đâu đó giữa spot metering và center-weight metering. Ký hiệu và minh họa cách thức đo sáng của từng loại trên: [IMG] Máy ảnh ghi nhận giá trị sáng tại các vùng ảnh màu xám (độ đậm của màu xám thể hiện mức độ được chú trọng nhiều hơn) rồi đưa ra giá trị phơi sáng cuối cùng cho tấm hình chụp ra. Metering mode trên máy ảnh ống kính rời thường được đặt trên một nút bấm riêng. Đối với máy ảnh du lịch, nó cũng có thể nằm trên một nút bấm riêng hoặc nằm sâu bên trong Menu tùy chỉnh. [IMG] Nút tùy chỉnh Metering dạng bấm (khoanh màu đỏ). [IMG] Nút tùy chỉnh Metering dạng xoay gạt. [IMG] Tùy chỉnh Metering trên Menu bên trong máy. 3. Thiết lập kiểu chụp (Drive): Thiết lập kiểu chụp của máy: Chụp đơn (single) từng tấm một, Chụp liên tiếp (continous) nhiều tấm liên tiếp cho tới khi đầy bộ nhớ đệm, hay Chụp hẹn giờ (self-timer). Một số máy có tính năng High Continous giúp chụp liên tiếp được nhiều tấm hình hơn trong 1 giây, nhưng độ phân giải ảnh sẽ bị giảm đi. Cách sử dụng các kiểu chụp này sao cho hiệu quả đã được nói tới kỹ càng trong loạt bài viết Vận dụng tốc độ chụp, mời các bạn xem lại để hiểu rõ hơn. Nút thiết lập Drive: [IMG] Nút thiết lập Drive mode (khoanh màu đỏ). [IMG] Thiết lập drive mode trên Menu bên trong máy. 4. Thiết lập cân bằng trắng (White Balance / WB) Xác định loại nguồn sáng hay điều kiện ánh sáng tại thời điểm chụp (điều kiện sáng là trời nắng gắt, trời nhiều mây… / nguồn sáng là đèn huỳnh quang, đèn sợi đốt…) để từ đó máy ảnh tái tạo màu sắc cho tấm hình được chính xác. Với sự phát triển của công nghệ ngày nay, máy ảnh số làm việc khá tốt trong việc tự động xác định nguồn sáng / điều kiện sáng nên người dùng có thể yên tâm để WB ở chế độ Auto, hoặc các thiết lập WB có sẵn trên máy. Với người sử dụng các mẫu máy ảnh số cao cấp hay chuyên nghiệp, còn có thể lựa chọn cân bằng trắng theo độ K hoặc custom. Ký hiệu và ý nghĩa của chúng như sau: [IMG] Ký hiệu và ý nghĩa của các loại WB (cột bên trái, từ trên xuống dưới): Cân bằng trắng tự động, Cân bằng trắng tùy chọn, Cân bằng trắng theo nhiệt độ màu Kelvin, Cân bằng trắng với nguồn sáng bóng đèn sợi đốt, bóng đèn huỳnh quang, ánh sáng ban ngày, đèn flash, trời nhiều mây, bóng râm. Cột bên phải minh họa rõ nét hơn về các sử dụng Cân bằng trắng theo nhiệt độ màu Kelvin. Theo đó, nhiệt độ màu càng cao tương ứng với nguồn sáng càng lạnh, lúc này máy sẽ phải bổ sung thêm gam màu lạnh vào hình chụp để bù lại. [IMG] Nút tùy chỉnh WB (khoanh màu đỏ) trên máy ảnh. 5. Thiết lập độ nhạy sáng (ISO) Như bài viết Các thông số cơ bản trong nhiếp ảnh: Sự phơi sáng đã phân tích, ISO cao cho tốc độ chụp nhanh hơn, khắc phục được nhược điểm của những ống kính có độ mở nhỏ, tuy nhiên bù lại, chất lượng ảnh sẽ kém đi với nhiều hạt (noise) và sự sai lệch trong tái hiện màu sắc. Với các mẫu máy ngày nay, ISO tối đa có thể lên tới 128.000, nhưng thực sự đó chỉ là con số mang tính chất chạy đua công nghệ giữa các hãng với nhau, vì chẳng ai cần đến mức ISO “điên rồ” đó cả. ISO 50-100 được coi là tốt nhất cho ảnh chụp chân dung (ngoài trời, đủ sáng) vì chúng tạo hiệu ứng mịn da (khỏi cần Photoshop) cho người mẫu. ISO 200-800 phù hợp với ảnh chụp trong nhà, trời chiều muộn. ISO 800-1600 phù hợp với ảnh chụp buổi tối, ánh sáng yếu. [IMG] Nút tùy chỉnh ISO. 6. Thiết lập cách thức lấy nét (Focusing) Chuyển đổi qua lại giữa 3 phương thức lấy nét: tự động lấy nét một lần (Single autofocus), tự động lấy nét liên tục (Continuous autofocus) và lấy nét bằng tay (Manual focus) tùy theo từng thể loại ảnh chụp (xem lại bài viết Vận dụng tốc độ chụp - phần I). [IMG] Nút tùy chỉnh Focusing. Thông thường, Single autofocus được sử dụng với chủ thể tĩnh (chân dung, phong cảnh, tĩnh vật). Continuous autofocus được sử dụng để đeo bám (object tracking) chủ thể động (thể thao, trẻ em, tốc độ cao) và Manual focus được sử dụng trong trường hợp chủ thể có ít sự tương phản (ví dụ: bức tường đồng màu) hoặc khoảng cách lấy nét cực gần (close-up). 7. Thiết lập kích thước và chất lượng ảnh chụp [IMG] Nút thiết lập kích thước và chất lượng ảnh chụp (khoanh màu đỏ). Thông thường máy ảnh số lưu ảnh dưới 2 định dạng: ảnh số dạng thô (file .RAW, .TIFF) và ảnh số dạng nén (file .JPG hay .JPEG). Nếu bạn không phải là người quan tâm nhiều tới vấn đề xử lý hậu kỳ với các phần mềm chuyên dụng như Photoshop thì không cần sử dụng tới định dạng ảnh thô vì chúng có dung lượng rất lớn, tầm vài chục – thậm chí đến cả trăm Mb. Với mỗi ảnh chụp, có thể lựa chọn kích thước lớn (chính là độ phân giải tối đa mà mỗi mẫu máy ảnh thường quảng cáo, ví dụ 18 “chấm” – 18 Megapixel), vừa hoặc nhỏ. Tương tự như vậy, chất lượng ảnh có thể chọn Tốt (Fine, Best), Bình thường (Normal, Standard) hoặc Thấp (Low), chúng sẽ ảnh hưởng tới dung lượng của ảnh. Trên đây là các thông số quan trọng mà bạn đọc cần thiết lập – bất kể với một chiếc máy ảnh ống kính rời cao cấp hay du lịch bình dân, để tối ưu hóa khả năng làm việc của chúng. Trong bài viết tuần sau, GenK sẽ hướng dẫn các bạn cách bố cục một tấm hình sao cho thật "chuyên nghiệp và ấn tượng". Sẽ là một bài viết thú vị và bổ ích khác nữa, mời bạn đọc đón xem!